Piano Recital: Chopin: From Fire To Dreams (09.5.2026) | Giới thiệu tác phẩm - Saigon Classical Music Group | Nhóm bạn yêu nhạc cổ điển Sài Gòn

Chopin: From Fire To Dreams (Nguyễn Trần Quốc Thắng) (09.5.2026)

27/08/2026

Chopin: From Fire To Dreams (Nguyễn Trần Quốc Thắng) (09.5.2026)

27/08/2026

Piano Recital: Chopin: From Fire To Dreams (09.5.2026) | Giới thiệu tác phẩm

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

English Version

 


FRÉDÉRIC CHOPIN (1810-1849)

Young pianist: Nguyễn Trần Quốc Thắng

 

Boléro in A minor, Op. 19 (1833)

(Boléro giọng La thứ, Tập 19)

 

Trong khối lượng tác phẩm đồ sộ và nổi tiếng toàn thế giới của Frédéric Chopin, có một số nhạc phẩm như những ngoại lệ thú vị, những bước rẽ hiếm hoi khỏi các khuôn mẫu kinh điển của ông như dạ khúc (nocturne), ballade hay mazurka. Bản Boléro giọng La thứ, Tập 19, có lẽ là tác phẩm đặc biệt nhất trong số này. Sáng tác năm 1833 và xuất bản một năm sau đó, đây là một thể nghiệm độc đáo nằm ở điểm giao thoa giữa chủ nghĩa chuộng ngoại lai của châu Âu thế kỷ 19, những đòi hỏi phô diễn kỹ thuật của phong cách style brillant tại Paris, và sức hút không thể chối bỏ từ chính bản sắc Ba Lan của Chopin.

Thủ đô nước Pháp khi ấy đang say mê những nét văn hóa ngoại lai, và trào lưu sùng bái Tây Ban Nha (Hispanophilia) lên ngôi thống trị. Văn hóa Tây Ban Nha được xem như biểu tượng cho sự cuồng nhiệt và niềm đam mê phóng khoáng của phương Nam. Dù vậy, Chopin chưa từng đặt chân đến bán đảo Iberia. Việc tiếp xúc với âm nhạc Tây Ban Nha của ông hoàn toàn thông qua sân khấu kịch và giao tiếp xã hội, được chắt lọc qua các vở opera Pháp đương thời, như tác phẩm La muette de Portici rất thành công của Daniel Auber, và qua tình bạn với gia đình nghệ sĩ García.

Được đề tặng cho cô học trò 15 tuổi, Nữ bá tước Émilie de Flahaut, bản Boléro ra đời từ những yêu cầu thực tế về mặt xã hội và kinh tế. Để khẳng định vị thế của một nhà sư phạm và nghệ sĩ biểu diễn hàng đầu trong giới quý tộc Paris, Chopin cần một danh mục tác phẩm lộng lẫy để thu hút khán giả. Vì vậy, Tập 19 tràn ngập kỹ thuật phô diễn, những dải hợp âm rải nối tiếp nhau và lối chơi piano lấp lánh, được thiết kế dành riêng cho “những nghệ sĩ piano có đôi tay thoăn thoắt”, đúng như nhận định sau này của nhà phê bình James Huneker.

Tác phẩm mở đầu bằng nét mơ hồ có chủ ý. Ba quãng tám đồng âm nốt Sol cường độ fortissimo (rất mạnh) vang lên, đóng vai trò như một bước chuẩn bị trên âm át, dẫn dắt tác phẩm một khúc dạo đầu ngẫu hứng dàn trải ở giọng Đô trưởng, chứ không phải vào giọng La thứ. Được ghi chú molto allegro risoluto (rất nhanh và kiên quyết), đoạn mở đầu rộng mở này không có sự đối xứng nhịp điệu thường thấy ở các điệu nhảy; thay vào đó, nó mang âm hưởng ngẫu hứng, tự do của một khúc dạo đầu opera. Chỉ sau đoạn dã khúc này, tác phẩm mới thực sự chuyển sang giọng La thứ để bắt đầu vũ khúc chính thức (Allegro vivace).

Khi bản Boléro tiến triển, Chopin đã mở rộng cấu trúc vũ khúc truyền thống thông qua việc liên tục phát triển chủ đề và sử dụng những thủ pháp hòa âm tinh tế. Đoạn giữa đi qua các điệu tính tương phản mạnh - La trưởng, La giáng trưởng, và Si giáng thứ - đặt những hợp âm risoluto dứt khoát, mang tính gõ song song với các đoạn dolce nhẹ nhàng, mô phỏng nét giai điệu thanh nhạc trữ tình của một bản dạ khúc. Cuối cùng, tác phẩm thực hiện một bước chuyển quen thuộc của thời kỳ Lãng mạn khi đi từ sự giằng xé của giọng thứ để vươn tới một cái kết rực rỡ, trọn vẹn ở giọng La trưởng.

Tuy nhiên, khía cạnh thú vị nhất của bản Boléro nằm ở nghịch lý cốt lõi: liệu đây có thực sự là một điệu nhảy Tây Ban Nha?

Khi tác phẩm mới ra mắt, Robert Schumann đã nồng nhiệt đón nhận, ca ngợi đây là "một bức tranh tràn ngập sự cuồng nhiệt của phương Nam". Nhưng khi giới nghiên cứu âm nhạc đi sâu vào phân tích hình thức, quan điểm này đã thay đổi. Dù Chopin có điểm xuyết trên tuyến giai điệu những dấu ấn Tây Ban Nha, như các nốt bậc bảy giáng của điệu thức Aeolian và chuỗi nửa cung lặp lại, thì cấu trúc nhịp điệu lại cho thấy rõ nguồn gốc của tác giả. Phần đệm bên dưới đã bỏ qua chùm ba Tây Ban Nha chậm rãi để thay bằng một nhịp điệu hành khúc mạnh mẽ. Như nhà viết tiểu sử Frederick Niecks từng nhận định, tác phẩm này lẽ ra nên được gọi là Bolero à la Polonaise (Bolero theo phong cách Polonaise).

Tựu trung lại, bản Boléro, Tập 19 không chỉ là một sáng tác chiều theo thị hiếu salon Paris. Tác phẩm là sự tổng hòa tâm lý xuất sắc và là minh chứng sống động cho những năm tháng chuyển giao của nhà soạn nhạc trẻ tuổi. Việc nhịp điệu polonaise của Ba Lan vang lên rõ ràng bên dưới lớp vỏ bọc Tây Ban Nha đã khẳng định bản chất nghệ thuật của Chopin. Dù cố ý khoác lên mình nét văn hóa ngoại lai hợp thời nhất của giới tinh hoa châu Âu, tâm hồn Ba Lan của ông vẫn luôn nguyên vẹn và thuộc về chính ông.

 


 

Étude in A minor, Op. 25 No. 11 “Winter Wind” (1836)

(Khúc luyện giọng La thứ, Tập 25, Số 11.)

 

Trước thời Frédéric Chopin, thể loại étude (khúc luyện) viết cho piano thường chỉ giới hạn trong bốn bức tường của phòng tập, là một bài tập mang tính sư phạm nhằm rèn luyện kỹ thuật ngón tay và phát triển tốc độ. Nhưng với việc xuất bản hai tập étude đồ sộ vào những năm 1830, Chopin đã hoàn toàn phá vỡ khuôn mẫu đó. Ông hòa quyện những thử thách kỹ thuật tột độ với biểu cảm nghệ thuật thăng hoa, nâng tầm bài luyện ngón thành một bản thơ giao hưởng tuyệt mỹ. Ở đỉnh cao của thành tựu ấy chính là Khúc luyện giọng La thứ, Tập 25, Số 11. Được biết đến rộng rãi qua cái tên tiếng Anh đầy gợi hình "Winter Wind" (Gió mùa đông), tác phẩm này là sự tổng hòa giữa kỹ thuật phô diễn và cơn bão cảm xúc sâu sắc.

Tác động tâm lý của bản nhạc chủ yếu đến từ thủ pháp đánh lừa cấu trúc đầy tài tình. Theo một giai thoại nổi tiếng, dù không có nhiều tài liệu kiểm chứng, ban đầu Chopin đi thẳng vào cơn bão âm nhạc, và chỉ thêm đoạn dạo đầu tĩnh lặng kéo dài bốn nhịp ở tốc độ Lento ngay trước khi xuất bản, dựa theo gợi ý từ người bạn Charles A. Hoffmann. Dù là sự thật hay giai thoại, phần mở đầu êm ru với tay phải nhẹ nhàng trình bày một chủ đề trầm mặc, mang âm hưởng hợp xướng này đã đánh lừa người nghe bằng một cảm giác nội tâm tĩnh lặng. Không hề báo trước, âm nhạc lao vào đoạn Allegro con brio (nhanh và rực rỡ), giải phóng một dòng thác gầm rú, tuôn chảy không ngừng của những chuỗi nốt móc kép nửa cung ở tay phải.

Dù Chopin nổi tiếng là người ghét các tiêu đề mang tính kể chuyện và không hề đặt cái tên "Gió mùa đông", danh xưng này vẫn lột tả hoàn hảo trải nghiệm về cả thính giác lẫn thể lực mà bản nhạc mang lại. Về bản chất, tác phẩm là một màn song tấu kịch tính dành cho một nghệ sĩ duy nhất, tái hiện cuộc giằng co kinh điển của thời kỳ Lãng mạn giữa con người và sức mạnh áp đảo của thiên nhiên. Trong khi tay phải liên tục lướt đi vùn vụt, đòi hỏi sức bền phi thường cùng sự uyển chuyển nhịp nhàng của ngón tay, thì tay trái lại đóng vai trò như một nhân vật chính đầy kiên nghị. Nó đảm nhận một giai điệu oai hùng, rền vang mang âm hưởng hành khúc, được dệt nên từ những hợp âm và các bước nhảy vượt nhiều quãng tám đầy rủi ro. Người nghệ sĩ biểu diễn phải kiểm soát sự cân bằng phức điệu vô cùng khắt khe, nhằm đảm bảo tuyến giai điệu của tay trái có thể xuyên thủng trận bão tuyết mịt mù của tay phải.

Được đề tặng cho nữ văn sĩ người Pháp Marie d'Agoult, bạn tình của Franz Liszt, người mà Chopin đã đề tặng tập Tập 10 trước đó, Khúc luyện giọng La thứ này vẫn luôn là một trong những phép thử khắc nghiệt nhất về thể lực trong toàn bộ các danh mục biểu diễn. Đây là tác phẩm đòi hỏi nhiều điều hơn là chỉ tốc độ đơn thuần; nó cần một sức nặng cảm xúc mãnh liệt và một tư duy có cấu trúc mang tầm vóc lớn. Đúng như lời cảnh báo nổi tiếng của nhà phê bình âm nhạc Hoa Kỳ James Huneker vào đầu thế kỷ 20: "Những kẻ có tâm hồn nhỏ bé, dẫu ngón tay có nhanh nhạy đến đâu, cũng nên tránh xa nó." Tuy nhiên, với những ai đủ sức để thuần phục, Khúc luyện Tập 25, Số 11 vẫn luôn là một kiệt tác nguyên sơ và đầy kịch tính, đẩy cả người nghệ sĩ lẫn cây đàn đến giới hạn tột cùng.

 


 

Scherzo No. 1 in B minor, Op. 20 (1831–1832)

(Scherzo Số 1 giọng Si thứ, Tập 20)

 

Cho dù vang vọng qua những phòng khách salon phủ rèm nhung của Paris những năm 1840 hay đang làm say đắm giới mộ điệu âm nhạc cổ điển ngày nay, bản Fantaisie giọng Fa thứ, Tập 49 của Chopin vẫn luôn vươn cao như một trong những thành tựu vĩ đại và đáng ngưỡng mộ nhất trong danh mục tác phẩm dành cho đàn phím thời Lãng mạn. Được sáng tác vào "Năm Hoàng kim" 1841 tại chốn điền trang thanh bình Nohant, cơ ngơi vùng nông thôn của nữ tiểu thuyết gia George Sand, kiệt tác này ra đời trong một thời kỳ ổn định hiếm hoi về mặt sáng tác của Chopin. Dẫu vậy, sự tĩnh lặng của vùng quê nước Pháp lại che giấu một nỗi u buồn sâu thẳm trong nội tâm. Như Chopin đã viết cho người bạn tâm giao Julian Fontana khi hoàn thành bản thảo: "Bầu trời thật đẹp, trong tim tôi chất chứa một nỗi buồn - nhưng như vậy cũng ổn thôi."

Sự giằng xé giữa vẻ đẹp rực rỡ và nỗi buồn dằn vặt này đã tạo nên nền tảng tâm lý cho bản Fantaisie. Dù tiêu đề ngầm ám chỉ những bước phiêu du tự do, không gò bó của một bản ngẫu hứng, Chopin đã cố tình đánh lừa người nghe. Ẩn dưới bề mặt của kết cấu dã khúc  khoáng đạt là bộ khung cấu trúc vững chắc như thép. Nhà soạn nhạc đã gạt bỏ những quy tắc sonata truyền thống, thay vào đó kiến tạo nên một mạch tự sự đồ sộ, mang tính song điệu, dẫn dắt thính giả qua một hành trình gian truân từ vực thẳm Fa thứ u tối, tang thương để vươn tới một cái kết rực rỡ, khải hoàn ở giọng La giáng trưởng.

Ở tầng cốt lõi, bản Fantaisie là một thiên tự sự mang tính chính trị-xã hội, một hiện thân được thăng hoa từ những chấn thương của cuộc Đại di cư Ba Lan. Tác phẩm mở đầu bằng một khúc hành tiến uy nghiêm và trầm mặc (Tempo di marcia). Các nhà âm nhạc học hiện đại đã chỉ ra rằng chủ đề mở đầu này đóng vai trò như một biến thể mang đậm tính tâm lý, u tối của Litwinka - bản hùng ca khởi nghĩa từ cuộc Khởi nghĩa Tháng Mười một năm 1830 thất bại. Bằng cách chuyển soạn khúc chiến ca này thành một khúc vãn ca tang tóc, Chopin đã biến biểu tượng phản kháng của dân tộc thành một phương tiện để bày tỏ niềm tiếc thương sâu sắc. Khi tác phẩm tăng tốc để bước vào phần trình bày gồm năm chủ đề đầy biến động, động năng tích tụ không ngừng, để rồi cuối cùng thăng hoa trong một bản hành khúc quân đội oai hùng, gợi nhớ đến một khúc ca yêu nước khác của Ba Lan.

Nếu ngoài mặt bản Fantaisie được định hình bởi động lực thúc đẩy không ngừng và tính chất nghiêm trang của hành khúc, thì điểm giữa của cấu trúc lại mang đến một khoảnh khắc siêu việt đến ngỡ ngàng. Ngay giữa tác phẩm, những dải hợp âm rải cuộn trào bỗng chốc tan biến vào một khúc hợp xướng tĩnh lặng với tốc độ Lento sostenuto (chậm và kéo dài) ở điệu tính xa xôi Si trưởng. Thường được giới phê bình ví như một "khúc thánh ca" hay một "sự hiển linh", khúc hợp xướng mang âm hưởng siêu thực này dường như làm thời gian ngưng đọng hoàn toàn. Nó mang đến sự bình yên chớp nhoáng trong tâm hồn, trước khi âm nhạc một lần nữa lao vào cơn bão của phần tái hiện.

Bản Fantaisie của Chopin vượt xa một màn trình diễn chói sáng về phong cách và kỹ thuật; tác phẩm là nhịp cầu tiến hóa quan trọng trong lịch sử âm nhạc, thứ sẽ truyền cảm hứng trực tiếp cho những thủ pháp biến đổi chủ đề trong các bản thơ giao hưởng và sonata sau này của Franz Liszt. Bằng việc đòi hỏi ở nghệ sĩ biểu diễn cả sức bền thể lực đáng kinh ngạc lẫn tư duy cấu trúc uyên thâm, Tập 49 như một minh chứng cho thiên tài độc nhất của Chopin trong việc ẩn giấu cấu trúc cách mạng, chặt chẽ bên dưới ảo ảnh đến nín thở của chất thơ ngẫu hứng.

 


 

Scherzo No. 2 in B-flat minor, Op. 31 (1837)

(Scherzo Số 2 giọng Si giáng thứ, Tập 31)

 

Vào thời kỳ Cổ điển, scherzo (tiếng Ý có nghĩa là "trò đùa") là một chương nhạc nhẹ nhàng, được đặt an toàn trong khuôn khổ của một bản giao hưởng hay sonata. Tuy nhiên, Frédéric Chopin đã tước bỏ hoàn toàn yếu tố hài hước của thể loại này và giải phóng nó. Với bốn bản scherzo độc lập, ông đã biến hình thức này thành một bức tranh rộng lớn cho những mạch tự sự mang tính bi kịch, ma quái và anh hùng. Được sáng tác vào năm 1837 ở thời kỳ đỉnh cao tuyệt đối trong sự nghiệp của ông tại Paris, bản Scherzo Số 2 giọng Si giáng thứ, Tập 31, hiện diện như một tác phẩm được yêu mến nhất và có tính trữ tình bao quát nhất trong chuỗi tác phẩm, một kiệt tác kết hợp giữa những nét tương phản kịch tính đầy sửng sốt với chủ nghĩa Lãng mạn bay bổng, không e dè.

Tác phẩm cất tiếng nói bằng một trong những thủ pháp kịch tính nổi tiếng nhất trong danh mục tác phẩm đàn phím: một âm hình chùm ba tĩnh lặng, mang điềm báo u ám lướt nhanh lên cao, rồi ngay lập tức bị đè bẹp bởi một chùm hợp âm bùng nổ ở cường độ fortissimo (rất mạnh). Đó là cuộc đối thoại âm nhạc đỉnh cao của câu hỏi và lời đáp. Học trò của Chopin, Wilhelm von Lenz, đã hồi tưởng lại sự khắt khe đến mức ám ảnh của nhà soạn nhạc đối với phần mở đầu này. "Đó phải là một câu hỏi," Chopin nhấn mạnh, yêu cầu đoạn nhạc phải được đánh thật nặng nề và u tối. "Nó phải là một ngôi nhà của những kẻ đã khuất."

Thế nhưng, từ phần mở đầu mang âm hưởng tăm tối ấy lại nở rộ một chủ đề thứ hai vô cùng ấm áp. Đối với giai điệu say đắm, miên man được ghi chú con anima (có hồn) này, Chopin yêu cầu các học trò của mình phải noi gương nữ ca sĩ soprano vĩ đại người Ý thuộc trường phái bel canto là Giuditta Pasta, hướng dẫn họ để tiếng đàn piano cất tiếng hát với hơi thở và cách phân câu của nghệ thuật opera.

Ẩn dưới sức hút cảm xúc trực diện là một thủ pháp đánh lừa cấu trúc đầy tài tình. Dù được đặt tên ở giọng Si giáng thứ, bản Scherzo lại ngoan cố chối bỏ chính điệu tính chủ của nó. Trọng tâm điệu tính thực sự của tác phẩm nằm ở giọng Rê giáng trưởng (giọng trưởng song song), nơi những giai điệu rực rỡ nhất tỏa sáng và cũng là đích đến khải hoàn của đoạn kết phô diễn kỹ thuật bùng nổ. Sự mơ hồ về điệu tính có chủ đích này - một giọng thứ u tối, đầy hoài nghi liên tục nhường bước trước một giọng trưởng tươi sáng - đã mang lại cho tác phẩm một động lực tâm lý bồn chồn và luôn kiếm tìm.

Được đề tặng cho cô học trò là Nữ bá tước Adèle de Fürstenstein, Tập 31 đã thu hút những bộ óc nghệ thuật hàng đầu của những năm 1830. Khi đánh giá về tác phẩm, Robert Schumann đã có một phép so sánh nổi tiếng với thơ của Lord Byron, miêu tả tác phẩm "thật dịu dàng, thật táo bạo, chứa chan tình yêu cũng như sự khinh miệt." Tác phẩm không chỉ đòi hỏi kỹ thuật điêu luyện của những ngón tay thoăn thoắt để chinh phục các dải hợp âm rải cuộn trào và những bước nhảy bùng nổ, mà còn cần một tâm hồn thi sĩ để cân bằng giữa nỗi khiếp sợ bủa vây với nét duyên dáng, tinh tế của nghệ thuật bel canto.

 


 

Scherzo No. 3 in C-sharp minor, Op. 39 (1839)

(Scherzo Số 3 giọng Đô thăng thứ, Tập 39)

 

Trong số bốn bản scherzo độc lập mà Chopin sáng tác, bản Scherzo Số 3 giọng Đô thăng thứ, Tập 39, được giới chuyên môn nhìn nhận rộng rãi là tác phẩm súc tích nhất, rắn rỏi như đá hoa cương và mang đậm tinh thần dữ dội của Beethoven nhất. Đây là một ví dụ mẫu mực về sự đối lập cảm xúc tột độ, đặt nguồn năng lượng cuồng nộ, ma quái song song với những khoảnh khắc tĩnh lặng tuyệt mỹ tựa chốn thiên đường.

Khởi nguồn của kiệt tác này gắn liền với mùa đông khắc nghiệt năm 1838-1839, khoảng thời gian Chopin trải qua cùng nữ tiểu thuyết gia người Pháp George Sand trên đảo Majorca. Cho pin chủ đích tìm kiếm một nơi trú ẩn ôn hòa cho sức khỏe đang suy yếu, thế nhưng ông lại phải hứng chịu những cơn mưa rét buốt không ngớt, sự thù địch của người dân bản địa và cảm giác cô lập đến ngột ngạt trong một tu viện dòng Carthusian bỏ hoang ở Valldemossa. Môi trường u ám và khắc nghiệt này đã thấm sâu vào tiềm thức sáng tạo của ông, tạo tiền đề cho những nét tương phản gay gắt định hình nên Tập 39.

Tác phẩm mở đầu bằng trạng thái mất phương hướng u tối có chủ ý với một chuỗi những lời thì thầm bí ẩn đi xuống theo nửa cung, rồi đột ngột bùng nổ thành một cơn bão ở tốc độ Presto con fuoco (rất nhanh và bùng cháy). Chủ đề chính là một cuộc tấn công dồn dập, mang tính võ biền của những chùm quãng tám kép tuôn trào, đòi hỏi một thể lực bền bỉ phi thường. Chopin đã đề tặng nhạc phẩm này cho người học trò cưng của mình, Adolphe Gutmann, một nghệ sĩ piano nổi tiếng với "vóc dáng lực lưỡng". Người sống cùng thời với nhà soạn nhạc, Wilhelm von Lenz, nhớ lại rằng những hợp âm trầm trải rộng, đầy đáng sợ ở phần mở đầu được viết riêng cho sức mạnh thể chất của Gutmann; đó là những hợp âm mà đôi bàn tay mỏng manh của chính Chopin cũng khó lòng rải xuống cùng lúc một cách trọn vẹn.

Nằm ngay ở tâm điểm của cơn cuồng phong này là một trong những phát kiến nổi tiếng nhất của Chopin. Điệu tính chuyển đổi trùng âm sang giọng Rê giáng trưởng tươi sáng, và nguồn năng lượng điên cuồng tan biến vào một khúc hợp xướng trang nghiêm mang âm hưởng thánh ca. Nhờ những hợp âm chủ điệu đồ sộ, phần trung tâm này vang vọng như những khúc thánh ca tu viện mà Chopin có lẽ đã tưởng tượng ra trong các sảnh đường ở Valldemossa. Dẫu vậy, mỗi nét nhạc nặng nề, tựa như tiếng đàn đại phong cầm, ngay lập tức được đáp lời bởi những dải âm thanh lấp lánh, tuôn đổ tựa thác ở tốc độ leggierissimo (rất nhẹ nhàng, bay bổng). Cuộc đối thoại độc đáo, mang đậm tính dàn nhạc này tựa như những cú miết dây tinh tế của đàn harp đáp lại một dàn kèn đồng nặng nề tạo nên một sự tĩnh tại sâu sắc, lơ lửng giữa vẻ trang nghiêm của trần thế và ánh sáng của thiên đường.

Ảo ảnh về sự bình yên rốt cuộc cũng vỡ vụn khi âm nhạc bị kéo tuột trở lại vòng xoáy của cơn bão Đô thăng thứ. Nối tiếp một cao trào vỡ vụn và tàn khốc, tác phẩm lao vụt vào một đoạn kết rực rỡ, vươn đến đỉnh điểm bằng hợp âm bậc ba Picardy chói lọi, đột ngột ở giọng Đô thăng trưởng. Đó không phải là một chiến thắng hân hoan, mà là khúc khải hoàn đầy kiệt sức của sự sinh tồn - một bản thơ bằng âm nhạc kỳ vĩ phác họa ranh giới mỏng manh giữa nỗi thống khổ và sự siêu việt.

 


 

Scherzo No. 4 in E major, Op. 54 (1842)

(Scherzo Số 4 giọng Mi trưởng, Tập 54)

 

Với bản Scherzo Số 4 giọng Mi trưởng, Tập 54, Chopin đã tạo ra một sự đảo ngược đầy xuất sắc, rốt cuộc ông đã sáng tác một nhạc phẩm thực sự tôn vinh đúng tên gọi của thể loại Scherzo này. Như nhà phê bình người Mỹ James Huneker từng đưa ra một góc nhìn tuyệt đẹp, tác phẩm này sở hữu "sự nhẹ nhàng, uyển chuyển và có cả ánh nắng vương lại đằng sau những vạch nhịp."

Được phác thảo vào năm 1842 và hoàn thành vào mùa hè năm sau tại Nohant, chốn điền trang thanh bình ở vùng nông thôn của nữ tiểu thuyết gia George Sand, bản scherzo cuối cùng này ra đời trong một trong những thời kỳ ổn định và thăng hoa nhất của nhà soạn nhạc. Đó là khoảng thời gian sức khỏe của ông tương đối tốt cùng sự bình yên trong đời sống, tạo tiền đề cho sự ra đời của một loạt các kiệt tác phi thường, trong đó có bản Ballade Số 4 và bản Polonaise "Anh hùng". Như một giai thoại thú vị của lịch sử, tác phẩm này mang lời đề tặng kép hiếm hoi. Do sự thay đổi ý định muộn màng của nhà soạn nhạc, ấn bản đầu tiên tại Đức được đề tặng cho cô học trò quý tộc của ông, Jeanne de Caraman, trong khi ấn bản tại Pháp cuối cùng lại mang tên em gái bà là Clotilde.

Là bản scherzo duy nhất trong chuỗi tác phẩm được viết ở giọng trưởng, Tập 54 hoàn toàn rũ bỏ cảm giác khiếp sợ dày đặc, dồn dập của những tác phẩm tiền nhiệm. Thay vào đó, bề ngoài tác phẩm được cấu trúc như một bức khảm lấp lánh và đầy tính ngẫu hứng. Chính sự trong trẻo, nhẹ tựa không khí này lại khiến trong mắt nhiều nghệ sĩ bậc thầy, đây trở thành tác phẩm nhiều cạm bẫy nhất để trình diễn trong cả bốn bản. Bản nhạc đòi hỏi sự tinh tế tuyệt đối về âm sắc và sự kiểm soát nhẹ như lông hồng thay vì sức mạnh dữ dội đơn thuần, tỏa sáng bằng nét duyên dáng bay bổng, gần như mang âm hưởng của Mendelssohn.

Nằm ở trung tâm của cấu trúc  này là một đoạn trio tuyệt mỹ, cân bằng hoàn hảo với sự rực rỡ bao quanh. Khi chuyển sang giọng thứ song song là Đô thăng thứ, nhịp độ chùng xuống thành một giai điệu trìu mến, mang âm hưởng dạ khúc. Dẫu cho những giai thoại còn lưu truyền cho rằng phần này bắt nguồn từ một bài dân ca Ba Lan, nét giai điệu cantilena (khúc hát du dương) đầy chiêm nghiệm này hoàn toàn là một sáng tạo nguyên bản của Chopin - một khoảnh khắc của sự hướng nội trữ tình thuần khiết. Nối tiếp dòng mộng tưởng này, các chủ đề Mi trưởng lấp lánh quay trở lại, tích tụ sức căng thông qua thủ pháp viết mô phỏng, những chuỗi âm giai lướt nhanh và các quãng tám vút cao, cuốn thính giả vào một đoạn kết mang âm hưởng vũ khúc hân hoan và rực rỡ.

Soạn bởi: Bùi Thị Thảo Hương

Comments are closed.